Hiển thị các bài đăng có nhãn thiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

0 Truyện cười (st)

Ngọc Thiên st.

Cô giáo gọi điện cho học sinh thông báo:
"Ngày mai cô bận nên cho các em nghỉ học".

Cậu học sinh vui quá chạy đến nói với ông nội: - Mai cháu được nghỉ học ông cho cháu đi công viên chơi nhé.

Người ông liền gọi điện cho cô thư ký của mình:
-Mai anh có việc bận, để hôm khác em nhé.

Cô thư ký liền gọi điện về nhà cho chồng của mình:
-Anh yêu mai công ty em hủy chuyến đi công tác rồi, ngày mai mình đi chơi nhé.

Người chồng của cô thư ký liền gọi điện cho cô giáo:
-Em yêu ơi mai vợ anh lại ở nhà mất rồi, em đừng đến nhé.

Thế là cô giáo lại gọi điện cho cậu học sinh mai lại đihọc...=)))

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

1 Chuyen vui

[Phan Ngoc Thien]

Cà phê mang đi về.

Sai thằng nhóc ra đầu ngõ mua cà phê mang về,
cu nhóc cầm tiền đi rồi cầm tiền về mà không thấy cà phê đâu?!
Sao vậy?..
Dạ... ở đó chỉ bán cà phê mang đi!
!!.

Anh đã nghe thấy chưa. (st)

Có đôi vợ chồng nọ rủ nhau đi sở thú để ôn lại kỷ niệm những ngày đầu quen nhau.
Họ đến chuồng voi, người hướng dẫn nói: đây là con voi, nó sống ở rừng rậm Ấn Độ, thời gian giao phối của nó kéo dài 2 giờ.
Vợ nghe vậy liền nói với chồng : “ anh nghe thấy chưa?!!”
Chồng buồn bã không nói gì, kéo vợ đi tiếp.
Đến chuồng Hà Mã, người hướng dẫn nói: “ Đây là con Hà Mã, nó sống ở vùng đầm lầy châu Phi,thời gian giao phối của nó kéo dài một tiếng rưỡi.”
Vợ lại nói: “Anh đã nghe thấy chưa??!”
Anh chồng cúi đầu. Họ tiếp tục đi…
Người hướng dẫn: “ đây là con huơu, nó sống ở thảo nguyên phương Bắc, thời gian giao phối của nó kéo dài 10 giây rưỡi”
Anh chồng tươi hẳn lên: “Em đã nghe thấy chưa?!! Nghe thấy chưa!”
Vợ phụng phịu: thế nên nó mới có sừng!

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

1 Người Huế là tổ tiên của người Nhật?

[Phan Ngọc Thiên gởi đến blog]

Trước khi đọc câu chuyện bên dưới, độc giả cần làm quen với vài câu nói tiếng Nhật sau đây để đối chiếu với ngôn ngữ dùng trong câu chuyện. Những câu nói ngắn tiêu biểu trong tiếng Nhật thường là những cụm từ kết hợp khoảng 4 từ:
  • Konnichiwa (cô-ni-chi-va) (Chào bạn)
  • Ogenki desu ka (ô-gen-ki-dex- ka) (Bạn có khoẻ không?)
  • Hai, genki desu (hẩy - gen-ki-dex) (Dạ khoẻ)
  • Anata wa? (a-na-ta-va) (Còn bạn khoẻ không?)
  • Watashi-mo genki-desu (oa-ta-Si-mô gen-ki-dex) (Tôi cũng khoẻ)
  • Arigatou (a-ri-ga-tô) (Cám ơn bạn)
Có một nhà nghiên cứu nhân chủng học người Nhật đi tìm nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình. Ông ta đã đi khắp thế giới để tìm kiếm nhưng vô vọng. Cuối cùng, ông trở về Châu Á và đặt chân đến Việt Nam. Ông đi tàu lửa từ ga Hà Nội. Vào đến ga Huế, tình cờ ông nghe được 2 người dân địa phương trò chuyện với nhau:
  • Mi đi ga ni?
  • Ừ, tau đi ga ni. Mi đi ga mô?
  • Ga tê. Tau đi ga tê.
  • Ga tê ga chi?
  • Ga Lăng Cô tề.
  • Răng đông như ri?
  • Ri mà đông chi!
  • Mi ra ga mô?
  • Ra ga Nam Ô.
  • Khi mô mi đi?
  • Chừ chứ khi mô.
  • Mi lo đi đi.
  • Ừ, tau đi nghe mi!
Nhận ra cách phát âm ngôn ngữ của người dân địa phương ở đây không khác gì tiếng Nhật ngày nay, nhà nghiên cứu người Nhật đã mừng rỡ reo lên: “A! Đây chính là tổ tiên của người Nhật!”

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

17 TRƯNG CẦU Ý KIẾN VỀ LOGO CHO C1-88

Hi mọi người,

Sắp tới (và lâu dài), chúng ta có nhiều sự kiện, nhiều nội dung liên quan đến C1-88-TQT. Thiết nghĩ mình phải có 1 logo riêng để nhận diện và đại diện cho tập thể khi chúng ta cần ấn hành tài liệu, bài viết, back drop cho các sự kiện, ...

Nhận lời mời của anh em, Phan Ngọc Thiên đã thiết kế logo cho lớp. Mời mọi người cho ý kiến (hoặc chỉ đơn giản là "OK") để chúng ta có logo chính thức và sử dụng lâu dài.


Dự kiến logo chính thức - phiên bản đầu tiên (version 1)



Logo - version 2



Cám ơn mọi người!

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

10 CA DAO QUẢNG NGÃI

[Phan Ngọc Thiên gởi đến blog]

Bao giờ núi Ấn hết tranh
Sông Trà hết nước anh đành xa em

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh
Liều mình lén mẹ theo anh phen này

Sớm mơi xuống Quán Cơm em thấy hòn núi Hó
Chiều qua Đồng Có em thấy hòn núi Tròn
Về nhà than với chồng con
Ra đi gan nát dạ mòn vì đâu

Ai về núi Ấn sông Trà
Có thương cô bậu ghé nhà mà thăm

Sông Trà sát núi Long Đầu
Nước kia chảy mãi rồng chầu ngày xưa
Núi Long Đầu lưu danh hậu thế
Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng
Ai về xứ Quảng cho nàng về theo

Ai về núi Bút, Quán Đàng
Núi bao nhiều đá dạ thương chàng bấy nhiêu

Ba La, Vạn Tượng, Cầu Mông
Chạy quanh chạy quéo cũng về đồng Ba La

Ai về Cỗ Lũy cô thôn
Nước sông Trà Khúc sóng dồn lăn tăn

Ai về quê ấy Nghĩa An
Ghé thăm phong cảnh Chùa Hang, Bàn Cờ

Tư Nghĩa, Cửa Đại là đây
Gành Hàu, núi Quế đá xây nên chùa
Dưới thời bông súng nở đua
Ngó lên trên chùa đá dựng kiểng giăng
Ngó qua bên xóm Trường An
Ngó xuống hòn Sụp cát vàng soi gương

Sơn Tịnh có núi Chân Trâu
Có bàu ông Xá, có cầu Rừng Xanh

Bao giờ rừng Thủ hết gai
Sông Trà hết nước mới sai lời nguyền

Tai nghe anh lấy vợ Ba La
Ruột đau từng chặng, nước mắt ra từng luồng
Ba La đất tốt trồng hành
Đã xinh con gái lại lành con trai
Vạn Tượng những chông, những gai
Con gái mốc thích con trai đen sì

Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Ân Phú với anh thì về
Ân Phú có ruộng tứ bề
Có sông tắm mát, có nghề mạch nha

Hỏi thăm qua chú bán quynh
Thấy ngoài Bến Ván, Trì Bình gặt chưa?
Bến Ván bán tới Quán Cơm
Gặt chưa không biết, thấy hai cây rơm ú ù

Cò bắt lươn cò trườn xuống cỏ
Lươn bắt cò cò bỏ cò bay
Từ ngày xa bạn đến nay
Đêm đêm tưởng nhớ, ngày ngày trông luôn
Kể từ Cầu Ván, Ao Vuông
Bước qua Quán Ốc lòng buồn lụy sa

Quán Cơm nào quán nào nhà
Ngóng ra Trà Khúc trời đà rạng đông
Buồn lòng đứng dựa ngồi trông
Ngó vô Hàng Rượu mà không thấy chàng

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu
Phải đâu chàng nói mà xiêu
Tại con cá bống tại niêu nước chè

Chim mía Xuân Phổ
Cá bống sông Trà
Kẹo gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức
Mứt gừng Đức Phổ
Bánh nổ Nghĩa Hành
Đậu xanh Sơn Tịnh

Cô gái lòng son
Không bằng tô don Vạn Tượng
Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ
Cũng cưới cho được con vợ bán don
Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

Sơn Tịnh đường đinh
Sa Huỳnh muối trắng
Bậu về nhớ ghé Ba La
Mua cân đường phổi cho ta với mình
Muối Xuân An, mắm Tịnh Kỳ
Khoai lang dưới Trảng, gạo thì Đường Trung

Ai về Cỗ Lũy, Xóm Câu
Nhớ mua đôi chiếu đón dâu về làng

Gái Thanh Khiết giỏi nghề cải giá
Trai Sung Tích chuyên dạ kén dâu

Bao giờ Thiên Mã sang sông
Thì làng Mỹ Lại mới không công hầu

Mía ngọt tận đọt
Heo béo tận lông
Cổ thời mang sông
Tay cầm lóng mía
Vừa đi vừa hít
Cái đít sưng vù

Sông Trà Khúc ai mà tát cạn
Rừng Trà Bồng ai đẵn hết cây
Anh mà đi với thằng Tây
Em đành phải dứt hết dây nghĩa tình

Ai về Sơn Tịnh quê ta
Đừng quên chiến thắng Ba Gia lẫy lừng
Tiếng đồn du kích Tịnh Khê
Lính đi mất xác, quan về mất lon

Ai về Cổ Lũy Cô Thôn
Quê ta Quảng Ngãi mồ chôn quân thù

Chèo ghe xuống Trạm múc dầu
Hỏi thăm chú lái nhức đầu khá chưa
Chưa khá tui bẻ nồi lá cho xông
Mồ hôi tui quạt, ngọn gió lồng tui che

Con mèo trèo lên tấm vách
Con chó dưới ngạch ấm ách chó tru
Thương anh kẻ oán người thù
Lên chùa Thiên Ấn mà tu cho rồi

Chẻ tre bện sáo ngăn sông
Đến khi đó vợ đây chồng mới hay
Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn sông Trà Khúc đợi ngày gặp em

Qua chùa núi Hó thắp bó nhang vàng
Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa
Trông trời chẳng thấy trời mưa
Rồng đi lấy nước rồng chưa kịp về
Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê
Lên non tìm quế, quế về rừng xanh
Trách ai treo ngọn thắt ngành
Cho chàng xa thiếp cho anh xa nàng

Nhà em có bụi mía mưng
Có con chó dữ, anh đừng lại qua
Qua lại chi cho nàng mang tiếng
Rước khách qua đường sớm viếng chiều thăm

Mía sâu có đốt
Nhà dột có nơi
Tui thấy vui tui mới đến chơi
Ai ve các chị mà làm hơi quá chừng
Lên non tìm quế, ra Huế tìm chồng
Đến đây tìm bạn ruột bầm như dưa
Làm vầy đã thắm tình chưa
Một mình em đứng giữa mưa em chờ
Ba năm quế gãy còn cành
Bình hương tan nát, miếng sành còn thơm

Nhà bà có ngọn mía mưng
Có cô gái út mà ưng ông già
Trồng trầu tưới nước cho vông
Cảm thương cây quế đứng trông một mình

Em nguyền cùng anh một miếng tóc mai
Trước chùa Quan Thánh, nghe lời ai anh bỏ nàng
Thương tằm cởi áo bọc dâu
Tưởng người có nghĩa hay đâu bạc tình

Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

3 Quảng Ngãi công bố 4 đặc sản xác lập kỷ lục VN

(Theo TuoiTre online, ngày 22/01/2013)

Sáng 22.1, Sở VH-TT-DL Quảng Ngãi tổ chức công bố 4 đặc sản của tỉnh Quảng Ngãi đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục Việt Nam. Đó là cá bống sông Trà, món Don, kẹo gương và quế Trà Bồng.
Đây là 4 đặc sản lọt vào Top kỷ lục Việt Nam, trong đó 2 đặc sản là cá bống sông Trà và món Don thuộc top 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam và 2 đặc sản kẹo gương, quế Trà Bồng thuộc top 10 đặc sản kẹo mứt, thiên nhiên nổi tiếng Việt Nam.
Tại buổi công bố, tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở VH-TT-DL Quảng Ngãi, cho biết UBND tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục chọn 2 đặc sản quế Trà Bồng và hành, tỏi Lý Sơn đề nghị Tổ chức Kỷ lục Việt Nam trình Tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập kỷ lục châu Á.
Tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp cùng các địa phương xây dựng cơ chế, chính sách miễn, giảm thuế; bảo tồn và phát triển các làng nghề, cơ sở sản xuất hàng đặc sản, sản xuất các sản phẩm lưu niệm; quảng bá 4 đặc sản đã được xác lập kỷ lục Việt Nam đến với du khách trong nước và quốc tế.

Trao chứng nhận kỷ lục Việt Nam cho các cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh 4 đặc sản Quảng Ngãi


Quế Trà Bồng
Sản phẩm làm từ quế Trà Bồng
Cá bống sông Trà

Đặc sản kẹo gương Quảng Ngãi

Con don

Món don


Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

0 Tư cách người Việt qua văn học

(Bài Tổng Hợp Của Vương Trí Nhàn) - Phan Ngọc Thiên sưu tầm gởi đến blog


Trong sự dằng xé của những mâu thuẫn
    Về đàng trí tuệ và tính tình  người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái  trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức.
     Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát hay khiếp sợ và muốn sự hoà bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.
     Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu (1) danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỷ, sùng (2) sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tín (3) tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.
(1) ham thích
(2) chuộng, hâm mộ  
(3) tin một cách mãnh liệt
Trần Trọng Kim
 Việt nam sử lược, 1925
Cái hay lẫn với cái dở
      Về tính chất tinh thần, thì ngư­ời Việt Nam đại khái thông minh, như­ng xư­a nay thấy ít ng­ười có trí tuệ lỗi lạc phi thư­ờng.
    Sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý (1).
      Phần nhiều ngư­ời có tính ham học, song thích văn chư­ơng phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo (2) và hình thức hơn là tư­ tư­ởng hoạt động.
     Não t­ưởng tư­ợng th­ường bị não thực tiễn hoà hoãn bớt, cho nên dân tộc Việt Nam ít ngư­ời mộng t­ưởng, mà phán đoán th­ường có vẻ thiết thực.
     Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang  trang hoàng bề ngoài, ­ưa h­ư danh và thích chơi cờ bạc.
     Não sáng tác (3) thì ít, như­ng mà bắt chư­ớc, thích ứng, dung hoà thì rất tài.
     Người Việt Nam lại rất trọng lễ giáo, song cũng có não tinh vặt, hay bài bác chế nhạo.
(1) tự nhiên cảm thấy hơn là do suy luận mà biết
(2) những gì đã trở thành lối mòn
(3) nói theo cách nói hiện thời, tức “sức sáng tạo “nói chung
 Đào Duy Anh
 Việt nam văn hóa sử cương, 1938
Nhiều thói xấu vặt tạo nên nỗi bất hạnh lớn
    Tính thiếu lo xa;
     sự đam mê vô độ cờ bạc và lòng tin ngây thơ vào sự cứu giúp của may rủi và cúng lễ;
      những sự kình địch giai cấp nẩy sinh từ những phân biệt giả tạo;
    đầu óc thích kiện cáo làm cho hai kẻ láng giềng chống lại nhau vì một mảnh đất cỏn con  hoặc vì một phần đồ cúng chia không đều;
      các vụ tranh chấp liên miên vì đất công;
      sự thụ động trước những yêu sách quá đáng của bọn cho vay…
       — đó là những nhân tố làm  trầm trọng thêm tình trạng khốn khổ của những gia đình làm ruộng.
    Những hậu quả này – nẩy sinh từ truyền thống — ngày xưa còn chịu đựng được nhờ mật độ người ổn định, nay trở thành một gánh nặng cứ mỗi năm một nặng thêm,  do dân số tăng lên nhanh chóng.
Nguyễn Văn Huyên
Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ, 1939
Không theo cái gì tới cùng

    Tôi tin rằng đất Đại Cồ Việt ta là cái đất cằn cỗi, những lý thuyết và tư tưởng đâu đâu, tốt đẹp thế nào mặc lòng cũng cứ đến đây là thành thối nát. Tôi không tin dân An Nam ta lại có nổi một điều tín ngưỡng nào, một quan điểm chắc chắn gì. Bởi thế con người Âu hoá cực đoan ấy chỉ Âu hoá được ở cái lỗ mồm mà thôi. Và than ôi! suy một người ra ngàn người, suy một sự ra vạn sự.
 Vũ Trọng Phụng
 Từ lý thuyết tới thực hành (1), Tao đàn 1939
(1) Đây là tên một truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng, trong đó kể về một nhân vật nói một đằng làm một nẻo, tuyên truyền cho một quan niệm mới nhưng sống thì hoàn toàn ngược lại.
Cái gì cũng giả, trừ bọn ăn cướp
      Đọc báo hàng ngày, thỉnh thoảng lại thấy xã hội Việt Nam sản ra những bọn người giả. Giả mật thám, giả lính đoan, giả làm người của sở nọ sở kia. Hạng người nào cũng có kẻ giả, trừ ra một bọn ăn cướp.
       Có lẽ trong các thực đơn của thế giới, không đâu có nhiều món giả bằng nước An Nam. Cũng thì một miếng thịt, người ta bầy ra đủ trò: nấu với tiết gọi là giả trâu, nấu với giềng mẻ gọi là giả cầy, nấu với hành răm gọi là giả chim, nấu với đậu nghệ gọi là giả ba ba, đốt đi rồi bóp với thính đỗ tương thì lại bảo là giả dê.
      Đồ ăn là thứ sẽ ăn vào miệng, hễ qua hàm răng thì nó là lợn hay trâu, hay gì gì nữa, cái lưỡi sẽ biết tức thì, thế mà chúng ta cứ làm giả, thì có khác chi xúi giục nhau rằng: trên đời không có cái gì mà không giả được? Cái nạn nhiều hạng người giả từ đấy mà ra
 Ngô Tất Tố
 Thờì vụ, 1938
Trì trệ bế tắc 
     Luôn luôn bị áp bức về kinh tế và chính trị, cuộc sinh hoạt tinh thần của người Việt thường lẩn cả vào trong tâm tưởng nên cảm giác có vẻ chậm chạp và sức phản ứng của  tình cảm và tư tưởng không mau lẹ.
    Tính ưa hư danh – phản ứng của xã hội đẳng cấp — là một tật phổ thông của người Việt Nam hằng cố gắng tìm vượt lên trên  địa vị hiện tại của mình.
    Tật cờ bạc — kết quả của óc tư hữu tài sản bị nghẹn lối  –  do cuộc sống  chật hẹp gây nên cũng là một tật phổ thông. Cờ bạc vẫn gieo những ảo tưởng giàu sang vào đám dân chúng rời rạc không còn đủ tin vào sức cố gắng hay tinh thần  chiến đấu của mình  mà chống nạn nghèo đói nữa.
Lương Đức Thiệp
Xã hội Việt Nam, 1944
    (… ) Phong trào ở nước ta, bất cứ phong trào gì, đều có một tính chung là nông nổi, chỉ hời hợt bề ngoài. Cái mà chúng ta thiếu nhất là sự sâu sắc. Bởi ta không chịu phân tích và suy xét kỹ nên bất cứ vấn đề gì chúng ta cũng không biết được rõ ràng và chu đáo, biết một cách thấu suốt.
      Chúng ta có cái đời sống bên trong rất nghèo nàn và rất bạc nhược. Những tính tình phong phú, dồi dào hay mãnh liệt chúng ta ít có. Chẳng dám yêu cái gì tha thiết và cũng chẳng dám ghét tha thiết, lòng yêu ghét của chúng ta nhạt nhẽo lắm. Chúng ta đổi lòng tín ngưỡng sâu xa ra một tín ngưỡng thiển cận và nông nổi, giữ cái vươn cao về đạo giáo của tâm hồn xuống mực thước sự săn sóc nhỏ bé về ấm no.
 Thạch Lam
 Theo dòng, 1941
Qúa thiết thực hóa tầm thường
  
     Người Việt không quan niệm cái gì thái quá.
   Từ cung điện lăng tẩm của vua chúa đến  đền đài miếu mạo của dân gian, mọi thứ đều khuôn theo sở năng kinh tế và xã hội.
    Khuôn khổ chùa Đế Thiên Đế Thích và thành Đồ Bàn đều ra ngoài trí tưởng tượng.
    Về học thuật cùng tư tưởng không có chủ nghĩa siêu hình nào.
   Vật lộn với cuộc sống quá eo hẹp hàng ngày nơi đồng ruộng hoặc miệt mài vào sách thánh kinh hiền, người ta  ít rảnh thời giờ theo cuộc suy tưởng triền miên. Cũng vì thiết thực mà người Việt tín ngưỡng để rút phần lợi ích thiển cận của tôn giáo tại ngay kiếp này nhiều hơn là mong linh hồn được giải thoát mãi tận kiếp sau.
                                                                                                               
                                                                                                              Lương Đức Thiệp
                                                                                      Việt Nam tiến hoá sử, 1944
Thụ động, bất lực, buông xuôi
    Họ cày ruộng, chân lội trong bùn, có khi phải ngâm mình trong nư­ớc. Có những ngư­ời đi cả ngày đư­ờng chỉ cốt kiếm một gánh củi khô. Như­ng tình trạng nhân công d­ư dật thư­ờng khiến con ng­ười lư­ời nhác. Họ trở nên vô tâm và hay cãi cọ. Rất nhiều chứng tật khác nhau, những vụ rắc rối về hành chính, những vụ xung đột vô cớ, đ­ược dịp nảy sinh và kết quả là bất công lại chồng chất thêm.
     … Môi trường làm sa sút sức khoẻ và tác động chẳng kém tới tính chất người Việt. Sức nóng thường xuyên làm cho thần kinh uể oải và con người dễ buồn ngủ. Không phải là hoàn toàn vô lý khi bảo rằng nhược điểm lớn nhất của con người nơi đây là lười biếng, hoặc ít nhất là cái khuynh hướng buông trôi, thây kệ mọi việc.
 Nguyễn Văn Huyên
 Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ, 1939
Cảm tính nặng hơn lý tính
     Nói chung người Việt có chất nghệ sĩ nhiều hơn chất khoa học. Nhạy cảm hơn là có lý tính. Yêu thích văn học và trang trí. Đa số chỉ mơ ước nghề làm quan là con đường đã vạch sẵn, không đòi hỏi nhiều cố gắng độc đáo, mà lại đem đến nhiều vinh hiển
    Chẳng có mặt nào của tính cách người Việt lại không có mặt bù lại, và không gợi ra ngay tức khắc một bằng chứng ngược lại. Chúng ta đã nói về tính biếng nhác và sự uể oải của người Việt, nhưng người ta chẳng thấy nơi nào trên thế giới một dân tộc cần cù như vậy, và những người lao động sẵn sàng làm những công việc nặng nhọc trong khi chỉ nhận được số tiền công rẻ mạt đến như vậy.
   Chúng ta cũng đã nói về tính phóng túng bông lông và mơ mộng của người Việt. Thế mà chúng ta lại cũng dễ dàng khám phá ở người dân nơi đây một đầu óc thực tế lạ lùng, nó quyết định chiều hướng tâm hồn người nông dân và trở nên một vũ khí lợi hại trong tay những người thợ mỹ nghệ.
   Nếu tính hay thay đổi là đặc tính của người Việt thì ta cũng phải ngạc nhiên mà nhận xét rằng trong bọn họ có một số kẻ là những tay dai dẳng và bám riết người ta khi xin xỏ; là những kẻ sính kiện tụng không ai địch nổi; là những học sinh sinh viên quyết chí săn đuổi bằng được bằng cấp.
 Nguyễn Văn Huyên
 Văn minh Việt Nam,1944
Biếng nhác, vô cảm, lẩn tránh
   Hiện tượng quá đông dân và thường xuyên thiếu việc làm khiến cho nhiều người có tâm lý sống ngày nào biết ngày ấy. Ở thôn quê, những kẻ có chút tiền bạc hoặc có đủ ruộng chỉ còn thích ăn không ngồi rồi.
   Xét về phương diện tinh thần, xu hướng biếng nhác này càng trầm trọng thêm bởi một nền giáo dục cổ lỗ và chưa bao giờ có phương pháp. Thành ra có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng dễ dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy.
    Sau khi chất đầy trí nhớ các loại kinh sách, nhà nho xưa kia chẳng còn nghĩ đến chuyện trau dồi trí tuệ nữa. Họ thường già trước tuổi. Hoặc là họ nhẫn nhục chịu đựng cốt không để ai đó do ganh ghét mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là họ sa vào thói chơi ngông đôi khi cũng tinh tế đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt cái năng lực phát minh cũng như năng lực lập luận khoa học.
     … Có những nhà quan sát nước ngoài nhận xét người Việt hay trộm cắp và dối trá. Trong một thời gian dài, người dân nước này chỉ được nhận một nền cai trị kém cỏi, trong đó thấm sâu chính sách ngu dân. Cá nhân con người luôn luôn bị săn đuổi, họ buộc phải bao quanh mình một tấm màn bí mật. Làng xã cũng vậy, trong quan hệ với chính quyền trung ương, họ cố giữ lấy một thái độ nếu không độc lập thì cũng ương bướng bất phục.
 Nguyễn Văn Huyên
 Văn minh Việt Nam, 1944
Nền văn hoá của kẻ yếu
     Hình như sống dưới cái bóng của cái khối văn hoá Trung quốc, sừng sững ở bên mình như cả núi Thái Sơn, văn hoá chúng ta chỉ cố sức để man diên (1) ở trên mặt đất chứ không có cái khuynh hướng trổ vọt lên trời.
    Để sống còn, chúng ta chỉ cốt bám chặt lấy đất như bám lấy cái nguồn sinh khí. Cho nên chúng ta không có cái vinh dự là có những tổ tiên chọc trời khuấy nước, làm chấn động thế giới bằng những tư tưởng hay hành động của mình, nhưng chúng ta lại đã may mắn có được những tổ tiên cần cù, kiên nhẫn biết sống thiết thực và biết tổ chức cuộc sống một cách thích đáng để đối phó với vận mệnh khắc nghiệt của mình.
   Cái giá trị tranh đấu chúng ta nhận thấy trong cái tính chất thiết thực ấy lại tuồng như chỉ là tiêu cực.
    Ngay trong văn hoá bình dân, cái văn hoá phát triển ở ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của Hán hoá, tuy có lộ rõ cái tinh thần chống đối luân lý lễ giáo của nhà nho, thế mà cũng chỉ là sự chống đối của kẻ yếu.
       Có những người sau khi làm tròn phận sự một người quân tử ở đời thì rũ sạch nợ trần đi tìm nhàn hạ ở nơi thôn dã, hay có người bất bình với thời thế khiến mình không thể làm tròn phận sự được mà đi tìm an ủi ở sơn lâm, nhưng thảy đều là những người chỉ cầu tự nhiên cấp cho những thú thanh cao để di dưỡng tính tình mệt mỏi, chứ không ai dám đem tâm trí mà tìm tòi mà tra hỏi tự nhiên.
 (1)  bò lan như cây cỏ
 Đào Duy Anh
 Việt Nam văn hoá sử đại cương, 1950

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

5 BLOG C1 Đại Cáo


Chiềng làng chiềng …xã…
                     loa…loa.. loa…..loa……
Từng nghe:

Việc xây BLOG cốt để yên dân
Tình bằng hữu đời đời vững chắc

Như lớp C1  ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Kính thầy mến bạn lưu tâm
Trải lòng bao dung khắc cốt .
                   (..cốc.. cốc…)

Từ, Lê, Võ, Phan, Trần  chung tay xây nền độc lập
Cùng Hồ, Đặng, Nguyễn, Huỳnh mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng sẵn có.
           (….. keng..keng……keng…..)

Năm Thìn trôi qua:
Nhân thị trường kinh tế phiền hà
Để trang Blog nhiều phen… muốn sập.

Than Ôi..
Nướng “NHÀ VEN” trên ngọn lửa hung tàn
Vùi “SƯ TỶ” xuống hầm sâu tai vạ.

Dẫu công nghệ (IT) có là vượt trội
BLOG vắng tanh không khác chùa bà đanh

Thất bại sáng tạo tan nát cả đất trời.
            (…. keng..keng……keng…..)

Lòng người đều nhạt nhòa,
Trời đất  cũng nhạt nhòa…há dung tha;
               (….cốc..cốc…..)

Anh em Ta đây:
Núi Thiên Ấn dấy nghĩa
Sông Trà Khúc nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
          (……. cốc..cốc…..cốc…..)

Khí Rắn tuôn về,
               hừng hực:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

 “QUẦNG VÚ MẶT TRỜI” sấm vang chớp giật,
“CHƯA ĐỖ ÔNG NGHÈ” trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng, trâm anh hội tụ.
“CÓ BÀN CHÂN KHẼ CHẠM BÀN CHÂN”

Thừa thắng đuổi dài, “BÙA CAO BIỀN” ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, ‘BẠN XƯA CỔ TÍCH” ta  rước về.
Nơi “BẢN PHONG THẦN”, máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm,
Chốn “ĐẶT BOM MÌN”, thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

C 1 càng đánh càng hăng.
Các C 2 3 4 5 6 7 8  cũng hòa mình vào dòng “LƯU BÚT”,
“GIÚP BẠN HỮU”  trở thành trang.. xúc động !!..
                (….. cốc..cốc…..)

Bởi thế:
Chẳng những uy tín chúng ta tăng cao
Cũng là xưa nay chưa hề thấy,
Sân chơi ta đầy màu sắc,
Cách chơi ta đầy mùa xuân,
Kiểu chơi ta đầy tình người, và..
Cuộc chơi có đầy……. nhuận ……….bút…………
                (…. cốc…..)

Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái


Âu cũng là nhờ “BAN LÂM THỜI”
Linh thiêng …đã… lặng thầm… phù trợ.

Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Nay…xa gần.. bá… bá…. cáo…cáo…cáo…..,
Ai nấy đều hay….
(…cốc…cốc…keng…keng…………..)

                                        Xuân Quý Tỵ
Phan Ngọc Thiên

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

0 Bờ xe nước Sông Trà



Trước năm 1990, du khách xuyên Việt trên đường số 1, ngang qua cầu Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi, nhìn về hướng tây sẽ thấy từng khối đen tròn nằm dọc theo bờ bắc sông Trà. “Khối đen tròn” đó chính là bờ xe nước. Đã hai thập kỷ vắng bóng trên sông Trà nhưng bờ xe nước mãi mãi không bao giờ phai mờ trong ký ức của những người Quảng Ngãi đã từng có thời sống với nó.

Một lão nông quê ở xóm Vạn, thôn Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh đã từng gắn bó hơn nửa thế kỷ với nghề “thợ xe”, giờ bất động như ngồi thiền trên chiếc chõng tre cũ kỹ. Giọng ông cụ chợt sôi nổi hẳn khi nghe gợi chuyện bờ xe nước sông Trà. Ông bảo đời ông nhiều phen chìm nổi với nghề thợ xe nhưng chưa bao giờ ông rời bỏ nó. Ông chỉ “chịu thua” khi công trình đại thủy nông Thạch
Nham ngăn dòng sông Trà hoàn thành vào năm 1990.

Bờ xe nước sông Trà những năm 80 của thế kỷ trước. Ảnh Ngọc Trinh

Trước khi có công trình thủy lợi tưới cho trên ba vạn hecta này, dân Quảng Ngãi hầu hết sống nhờ vào nguồn nước của sông Trà thông qua các bờ xe nước. Sông Trà có chiều dài 130 km nhưng chỉ có 30 km cuối cùng trước khi đổ ra biển, mới có thể làm được bờ xe. Ở miền núi, do đặc điểm có nhiều ghềnh đá, bất lợi cho việc làm bờ xe, vả lại đất canh tác cây lúa nước không nhiều nên không thể triển khai bờ xe được vì thua lỗ.
Khi những trận lũ dữ dằn ở miền Trung đã vãn, những thợ xe nước theo thuyền ngược sông Trà lên thượng nguồn để mua tre và các loại dây rừng- hai loại vật liệu chính để làm bờ xe. Nếu làm lần đầu thì mỗi bờ xe nước phải tốn ít nhất là 4.000 cây tre và cũng từng ấy dây lạt để cột, buộc. Một số ít gỗ dương để làm trục quay và các dầm, thanh. Nếu tính theo thời giá hiện nay, mỗi bờ xe nước phải tốn khoảng vài trăm triệu đồng.

Cùng với việc ngược sông Trà của các thợ xe, người đứng đầu trong ban “trưng cử” (một dạng của cổ đông ngày nay) lo chạy thủ tục giấy tờ xin hương lý trong làng cho phép dựng bờ xe. Một thành viên khác trong ban “trưng cử” lo liên hệ với các chủ điền để ký “hợp đồng” về việc tưới nước cho vụ lúa tới.

Mỗi bờ xe nước có hai ban: Ban thợ xe gồm 7 người, người đứng đầu được gọi là “trùm”. Anh này vừa giỏi kỹ thuật, vừa quán xuyến mọi việc từ trong xe đến ngoài đồng. Hai anh “trọn” (tức nhân viên trong ban) có nhiệm vụ trông coi xe và sửa chữa những chỗ hỏng hóc. Hai anh dẫn thủy lo việc điều tiết nước ngoài đồng. Hai anh còn lại được gọi là “rẽ”, chuyên lo việc vặt cho hai “trọn”.

Ban thứ hai được mang tên “trưng cử”. Ban này không quy định số người. Những người giàu có như ông Tú Thao ở Tịnh Sơn, một mình bỏ vốn ra làm riêng một bờ xe nước.

Vì vốn lớn nên thường thì mỗi bờ xe có từ 8 đến 16 “cổ đông”. Nhiệm vụ của ban này là bỏ tiền ra mua nguyên liệu, cấp lương thực cho số thợ xe để thi công. Tỷ lệ ăn chia sau vụ mùa là 6/4. Thợ xe (không có trong ban “trưng cử”) được 6 phần còn “cổ đông” được 4 phần.

Và dòng sông Trà hôm nay- xe xúc cát có thể “lội” giữa dòng. Ảnh: T.Đ

Làm bờ xe nước không khó, cái khó là ở chỗ chọn vị trí và làm bờ cừ. Mỗi bờ xe từ 9 đến 12 bánh nước, mỗi bánh nước trông như chiếc vành xe đạp. Chung quanh vành, người ta buộc các ống tre, được bịt một đầu, đặt nghiêng 45 độ so với trục. Làm sao đó để khi bánh xe tiếp cận với mặt nước thì nước được đong đầy các ống. Lực nước sẽ đẩy các ống này lên đỉnh, ống nghiêng và trút nước ra máng, dẫn về đồng.

Cái độc đáo của bờ xe nước là không tốn nhiên liệu mà vẫn đưa được nước từ sông ra ruộng. Người thợ xe buộc các ống nước vào bánh sao cho đảm bảo kỹ thuật mới có thể “múc” được nước lên.

Ở vùng núi các tỉnh phía Bắc cũng có bờ xe nước, song chỉ có một bánh, riêng ở sông Trà, nhiều gấp 10-12 lần. Mỗi bánh xe có đường kính từ 8 đến 10 mét và mang trên mình nó vài trăm ống nước. Thế nhưng, không một bánh nào trục trặc mà cùng quay đều suốt trong những tháng nắng hạn.

Bánh xe quay nhanh hay chậm, ngoài việc chọn vị trí chỗ nước sâu, còn phụ thuộc vào việc làm bờ cừ. Các thợ xe đóng cọc theo hình chữ V. Phên tre và các loại rác được kè theo cừ. Dòng nước được dẫn theo hình chữ V này xuống đúng vị trí đặt bánh xe. Chữ V càng hẹp thì lưu tốc càng lớn. Nhiều bánh xe “mạnh” đến mức có thể “mang” 5-7 đứa trẻ con lên tận đỉnh như đu quay ngày nay!

Có lẽ trước khi con người phát minh ra điện để làm đu quay, cầu trượt trong các công viên thì bờ xe nước là loại đu quay không mất tiền, xuất hiện sớm nhất đối với trẻ con dọc sông Trà! Ai đã từng sống bên dòng sông này hẳn không thể nào quên mỗi buổi chiều về, khi ánh ngày sắp tắt, mỗi bờ xe nước trên sông Trà là một vòm cung của bảy sắc cầu vồng rực rỡ. Cứ đều đặn mỗi chiều, thiên nhiên lại ban tặng cho cư dân sông Trà những sắc màu không quên ấy.

Sắc màu ấy sẽ lưu giữ mãi trong ký ức của những người Quảng Ngãi tha hương. Song có mấy ai còn nhớ 54 bờ xe nước dọc sông Trà ngày ấy đã từng tưới tắm cho hàng vạn hecta đất, cưu mang hàng chục vạn người.

Bây giờ công trình thủy lợi Thạch Nham đã khai tử bờ xe nước trên sông Trà. Tỉnh Quảng Ngãi đang có dự án đắp đập ngăn sông và phục dựng lại bờ xe nước. Chúng ta hy vọng không bao lâu nữa, thế hệ trẻ hôm nay lại tái gặp biểu tượng xe nước của cha ông một thời, cứ ngỡ là sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong quên lãng.

                                                                Theo: baoquangngai.com.vn
(Phan Ngọc Thiên sưu tầm)

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

1 Hồi ức thời tem phiếu

Chùm ảnh do Phan Ngọc Thiên cung cấp đến blog. Cám ơn Thiên.